09:29 Chủ Nhật, 23/09/2018
Khoa học công nghệ
opera fix
    
opera fix
Hiện trạng và giải pháp sắp xếp công việc cho VĐV thể thao thành tích cao Việt Nam sau khi nghỉ thi đấu
25 Tháng Sáu 2018 15:02:00 GMT+7
Chúng ta vẫn thường nói rằng:“thể thao là một nghề đặc biệt” đặc biệt bởi sự cống hiến và hy sinh toàn bộ tuổi thanh xuân cho tập luyện và thi đấu thể thao nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đem lại vinh quang cho tổ quốc. Chính vì lẽ đó, thể thao cũng cần được quan tâm bù đắp hết sức đặc biệt, nhất là đối với các vđv sau khi hết tuổi thi đấu.

Đặt vấn đề

Chúng ta vẫn thường nói rằng:“thể thao là một nghề đặc biệt” đặc biệt bởi sự cống hiến và hy sinh toàn bộ tuổi thanh xuân cho tập luyện và thi đấu thể thao nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đem lại vinh quang cho tổ quốc. Chính vì lẽ đó, thể thao cũng cần được quan tâm bù đắp hết sức đặc biệt, nhất là đối với các vđv sau khi hết tuổi thi đấu. Trong thời buổi kinh tế thị trường không ngừng phát triển, các vđv thể thao thành tích cao sau khi nghỉ thi đấu gặp nhiều áp lực, khó khăn trong tìm kiếm việc làm do nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau. Thông qua tìm hiểu về thực trạng vấn đề sắp xếp công việc cho vđv thành tích cao ở nước ta sau khi nghỉ thi đấu, chúng tôi đề xuất một số biện pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công việc cho vđv sau khi nghỉ thi đấu.

1.    Thực trạng vềcơ chế chính sách đối với các vđv sau khi nghỉ thi đấu.

Kể từ khi thành lập nhà nước Việt Nam,ngành TDTT đã ban hành rất nhiều các văn bản quy định về chế độ đãi ngộ cho các vđv đỉnh cao tại các sân chơi lớn mang tầm khu vực, châu lục và thế giới như:Điều 32 Luật thể dục, thể thao năm 2006, quyền và nghĩa vụ của vđv thành tích cao nêu rõtại mục 4 và mục 5.Hay gần đây là“Quyết định số: 32/2011/QĐ-TTg- 2011 về một số chế độ đối với huấn luyện viên và vận động viên thể thao được tập trung huấn luyện và thi đấu.”Trong Quyết định này cũng chỉ đề cập đến chế độ của hlv, vđv khi được tập trung các đội tuyển quốc gia, hay các đội tuyển của tỉnh thành phố. Thông tư liên tịch số 127/2008/TTLT/BCT-BVHTTDL ngày 24/12/2008 của liên Bộ Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hướng dẫn thực hiện chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với hlv, vđv thể thao. Bộ Chính trị khóa XI 2011, Nghị  quyết số  08-NQ/TW, ngày 01-12-2011 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020”.

Có thể thấy sự quan tâm của Chính phủ, Nhà nước Việt Nam được thể hiện trong chủ trương đường lối và pháp luật cũng như chế độ đối với các vđv thành tích cao. Tuy nhiên các quy định còn chung chung chưa thật sự cụ thể dẫn đến việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, chưa có sự đồng bộ trên toàn quốc. Trong khi đó, trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình trong và ngoài nước, quá trình phát triển xã hội ngày càng nâng cao. Để đáp ứng và theo kịp nhu cầu xã hội, chúng ta cần nhanh chóng bổ sung các vấn đề như tăng mức độ bảo nghề nghiệp, vấn đề an sinh xã hội và đặc biệt là đối với chế độ sắp xếp ổn định công việc cho vđv sau khi giải nghệ chúng ta vẫn chưa có sự điều chỉnh trong các quy định hỗ trợpháp luật trong việc làm đối với vđv sau khi giải nghệ.

Chính vì chưa có sự ràng buộc trong pháp lý một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương và sự giám sát một cách có hiệu quả dẫn đến, các vđv sau khi nghỉ thi đấu vẫn chưa có một cơ sở pháp lý dành riêng cho hoàn cảnh của mình. Trên toàn quốc, các đơn vị địa phương vẫn giải quyết vấn đề công việc của vđv sau khi giải nghệ theo cách riêng của mình. Việc thực hiện giữa các địa phương còn có sự khác biệt rất lớn, có thể thấy điển hình như:Đà Nẵng với chương trình “chiêu hiền đãi sĩ” của Lãnh đạo Thành phố dành cho lĩnh vực thể thao với mức lương “vượt khung” chi dành cho những vđv xuất sắc là điều động viên khích lệ vô cùng lớn lao đối với các vđv. Tuy nhiên trong chính sách này chỉ mới dùng tiền để thu hút nhân tài. Đối với tỉnh An Giang, áp dụng chế độ đãi ngộ thông qua tính điểm tích lũy thành tích của vđv đạt được ở các giải trong nước và quốc tế. Với chế độ đãi ngộ này, ngoài việc kích thích nỗ lực tập luyệncho vđv thì đây cũng là một phương pháp nhằm mục đích chính là giữ chân vđv, tránh hiện tượng “chảy máu nhân tài thể thao”.

Nhìn chung, trong thời gian qua, cả cấp Trung ương và Thành phố đều đã ban hành một số chế độ, chính sách dành cho hlv, vđv thể thao. Tuy nhiên, các chế độ, chính sách chỉ mới đề cập đến các loại tiền dành cho vđv khi còn đang làm nhiệm vụ. Cái cốt lõi của vấn đề là vđv vẫn còn phải “tự thân phấn đấu” để vươn lên và “tự bươn chải” khi kết thúc đời vđv của mình. Họ chưa được cung cấp đầy đủ các điều kiện đảm bảo cần thiết để phát huy tài năng của mình lên mức tối đa, cũng chưa được chuẩn bị đầy đủ về cả tâm lý và kiến thức, kỹ năng để vào đời sau này.

2.    Thực trạng về phương diện bảo hiểm xã hội đối với các vđv Việt Nam

Thể thao thành tích cao là sự cạnh tranh khốc liệt luôn biến đổi và không ngừng gia tăng các chỉ số về thành tích, các kỷ lục liên tục bị phá vỡ qua các cuộc thi đấu. Chính vì đặc tính nguy hiểm và mức độ rùi ro cao trong tập luyện và thi đấu thể thao của vđv thành tích cao là điều khó tránh khỏi. Nên vấn đề đảm bảo an toàn cho vđv đã trở thành một phần quan trọng trong quá trình bảo hiểm thân thể, cũng như bảo hiểm xã hội cho vđv. Rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện tốt vấn đề bảo hiểm, an sinh xã hội dành cho vđv trong quá trình tập luyện thi đấu và vđv sau khi nghỉ thi đấu. Hiện tại Trung Quốc đã thực hiện rất nhiều loại bảo hiểm và các chính sách xã hội đối với vđv thành tích cao như:bảo hiểm tàn tật, bảo hiểm y tế, bảo hiểm dưỡng lão, và nhiều chính sách hỗ trợ tương tự đối với vđv. Trong khi đó, ở Việt Nam các chế độ về bảo hiểm xã hội cho cho người lao động nói chung còn nhiều bất cập, chưa nói gì đến bảo hiểm xã hội dành cho các vđv thể thao. Đại đa số các vđv thể thao của Việt Nam chưa được mua bảo hiểm xã hội,thậm chí ngay đến cả các nhà vô địch thế giới, vô địch Seagame của chúng ta cũng chưa được đóng bảo hiểm. Tại sao lại như vậy? Trong quá trình tìm hiểu thực tế về các quy định chính sách của nhà nước đối với vấn đề bảo hiểm y tế đối với các vđv thể thao chúng tôi được biết:

Theo Quyết định 32/2006/QĐ-TTg ngày 6/06/2011 Tại Điều 2: “Vận động viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước và vận động viên không hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhưng đang làm việc ở các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, thì trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu sẽ đơn vị quản lý đảm bảo các chế độ BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định của pháp luật.”

Các chính sách về BHYT đối với vận động viên là rất rõ ràng. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy điều khó khăn duy nhất tập trung ở nhóm vận động viên không hưởng lương từ ngân sách nhà nước và không thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật về BHXH, BHYT. Với quy định này, đa phần các vđv không đủ điều kiện để mua BHYT vì phần lớn các em chưa được vào biên chế nhà nước. Lý do thứ hai, không phải đơn vị nào cũng thực hiện chính sách mua BHYT cho vđv. Điều đó có thể lý giải vì sao ở Việt Nam các vđv lại thiếu sự quan tâm đến vấn đề BHXH cho bản thân. Đối với vđv khi giải nghệ, họ cần phải tự mua BHYT, diện tham gia theo hộ gia đình. Nếu không mua BHYT, họ sẽ thiếu đi sự trợ giúp từ chính sách bảo hiểm khi gặp phải sự cố sức khỏe trong cuộc sống thường ngày.

Trong lộ trình bao phủ BHYT toàn dân, BHXH Việt Nam vẫn chưa có chủ trương xây dựng các chính sách riêng biệt về BHYT cho nhóm đối tượng vđv thể thao. Luật BHYT của chúng ta mới chỉ có ban hànhtại Khoản 10, Điều 6 Luật BHYT năm 2014 quy định: “Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ BHYT chi trả. Vì vậy, việc xây dựng gói dịch vụ y tế đối với nhóm vận động viên cũng nên được nghiên cứu thêm.” (Trích trong Điều 6 Luật BHYT năm 2014).

3. Thực trạng về quyền lợi việc làm của các vđv sau khi giải nghệ chưa được coi trọng

Hiện nay, việc sắp xếp công việc cho các vđv tại các địa phương chưa thật sự được quan tâm chú ý, nhất là đối với các vđv không đạt được thành tích nổi bật sau khi giải nghệ. Sự hỗ trợ về một phần kinh tế và sự giới thiệu các vị trí công việc thường dành cho một bộ phận các vđv ưu tú hoặc các vđv trong tập luyện, thi đấu không may gặp phải chấn thương, khuyết tật thì được bù đắp phần nào kinh phí. Đối với những vđv bình thường không đạt được thành tích cao hoặc không thể trở thành những vđv ưu tú thì với họ không nhận được sự quan tâm chú ý của các bộ môn thể thao cũng như sự chú ý của xã hội. Đối với họ mà nói đó là điều hết sức không công bằng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống tương lai của họ, đồng thời cũng làm tổn thương đến tính tích cực đối với các vđv thuộc nhóm này.

Đương nhiên, đối diện với tình hình kinh tế và tài chính trong và ngoài nước không mấy lạc quan, sự canh tranh ngày càng khốc liệt trong mọi lĩnh vực của xã hội. Thêm vào đó xu thế tinh giảm biên chế trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp cắt giảm nhân viên trong bối cảnh chung, hạn chế việc nhận công chức và viên chức. Số lượng vđv giải nghệ không đạt được thành tích nổi trội, chưa sắp xếp được công việc còn tồn đọng rất nhiều so với các vđv ưu tú có thành tích xuất sắc, họ dễ dàng hơn trong tìm kiếm một công việc phù hợp với bản thân. Nhìn chung, đối với các vđv sau khi nghỉ thi đấu nhận thức xã hội còn thấp, học lực phổ thông không đạt được kết quả tốt(68% học lực trung bình), thiếu các kỹ năng sống, kỹ năng làm việc…đó cũng là nguyên nhân khiến các đơn vị rất khó có thể sắp xếp một công việc phù hợp với nhóm vđv này. Những vđv không có thành tích nổi trội này rơi vào thế bất lợi trong cạnh tranh các công việc ngoài xã hội, với thời gian ngắn rất khó có thể làm thay đổi được tình hình. Tất cả cả điều đó đã dẫn đến việc sắp xếp công việc cho vđv sau khi nghỉ thi đấu vốn chưa tìm ra giải pháp nay khó khăn càng tăng gấp bội.

4.    Ý thức của vđv trong học tập nâng cao học vấn và định hướng công việc cho tương lai.

Giai đoạn thanh thiếu niên là giai đoạn thích hợp nhất để học tập các kiến thức cuộc sống, nhân sinh quan và các giá trị đạo đức chủ yếu được tác dụng trong thời kỳ này.Tuy nhiên, ý thức học tập của vđv trẻ cần được nâng cao hơn nữa.Các vđv ít có hứng thú đối với việc học tập trên lớp (86%), dẫn đến hầu hết các em có nền tảng kiến thức văn hóa là không vững. Cũng phải công bằng mà nói, do ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: chú trọng mục tiêu đào tạo chuyên môn, điều kiện giáo dục văn hóa trong các trường thể thao còn thiếu thốn…đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức học tập văn hóa của vđv. Bản thân vđv còn thiếu chủ động, chưa nhận thức đúng đắn về học tập. Thông qua quá trình nghiên cứu điều tra, chỉ có một bộ phận nhỏ các em vđv nhận ra tầm quan trọng của học tập văn hóa (14%).

Chính vì vậy mà chất lượng kiến thức của vđv sau khi giải nghệ là không cao, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng sống bị hạn chế, không đáp ứng được cầu của xã hội. Ngay cả khi còn có cơ hội được học tập nâng cao kiến thức chuyên môn cũng như hoàn thiện những thiết hụt của bản thân, các vđv cũng không thật sự hào hứng với việc học tập. Khi được hỏi về những dự định công việc trong tương lai, thì rất nhiều vđv trả lời trong trạng thái mơ hồ, không có định hứng rõ ràng và cũng không có sự chuẩn bị hành trang cho công việc của mình sau này (73%). Các em thường hy vọng cho rằng, cố gắng tập luyện tốt giành thành tích xuất sắc để sau khi giải nghệ được sắp xếp một vị trí công việc tốt đúng theo mong muốn của mình.

5.Nguyên nhân còn tồn tại của vấn đề sắp xếp công việc cho vđv sau giải nghệ

Trước tiên phải nói đến chế độ chính sách đảm bảo công việc cho vđv sau khi giải nghệ vẫn chưa được rõ ràng cụ thể, chưa có sự bổ sung thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế. Hiện nay các bộ ngành đã có quan tâm chú ý tới các chế độ sắp xếp, ổn định công việc cho vđv sau khi giải nghệ, tuy nhiên ngay cả khi các quy định đã được chính phủ ban hành, thì sự giám sát của các bộ phận có liên quan vẫn còn nơi lỏng, các cơ quan quản lý vđv của địa phương thiếu việc thực hiện các định hướng, hướng dẫn và chỉ đạo cần thiết đối với công việc của vđv sau khi nghỉ thi đấu.

Thứ hai, mục tiêu đào tạo vđv thành tích cao của Việt Nam còn tồn tại khiếm khuyết. Điều này có thể thấy từ việc coi trọng thành tích, tất cả vì mục tiêu chiến thắng giành huy chương vàng, chưa thực sự chú ý đến sự phát triển toàn diện đối với vđv.

Thứ ba, sự đảm bảo về pháp chế đối với vđv sau khi nghỉ thi đấu chưa có sự ràng buộc của pháp luật. Cần có sự phối hợp của các bộ ngành như Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động xã hội cùng chung tay xây dựng điều luật và giải quyết vấn đề việc làm của vđv sau khi nghỉ thi đấu.

Thứ tư, cơ chế bảo hiểm trong thị trường thể thao chưa hoàn thiện.Ở nước ta kinh tế còn nhiều khó khăn, vấn đề bảo hiểm xã hội nói chung vẫn chưa đạt được sự tiến bộ bảo hiểm thân thể, bảo hiểm nghề nghiệp như trên thế giới. Đối với chương trình bảo hiểm cho các môn thể thao của Việt Nam còn yếu kém, chưa đủ mức độ đảm bảo và cũng chưa được phổ cập một cách rộng rãi.

Ngoài ra, một số lượng đáng kể các vđv đã không thoát khỏi tư tưởng “chờ đợi” “dựa dẫm” phụ thuộc quá nhiều vào các cơ quan chủ quản, mà bỏ qua ý thức tự mình nâng cao kiến thức hoàn thiện bản thân. Thiếu sự chủ động trong tìm kiếm công việc phù hợp với bản thân, chưa biết phát huy các năng lực sở trường của mình. Đây cũng là một phần trách nhiệm của vđv sau khi nghỉ thi đấu gặp phải những khó khăn trong quá trình hội nhập với xã hội.

Kết luận

Thông qua đánh giá thực trạng vấn đề sắp xếp công việc cho vđv sau khi nghỉ thi đấu, chúng tôi đề xuất một số biện pháp khắc phục nâng cao hiệu quả công việc cho vđv sau khi nghỉ thi đấu như sau:

(1) Hoàn thiện bổ sung các chính sách và bồi thường hợp lý, kết hợp với sắp xếp công việc cho vđv. (2) Động viên khuyến khích vđv sau khi giải nghệ tiếp tục nâng cao kiến thức giáo dục. (3) Tích cực tạo điều kiện cho vđv chủ động tự thân trong công việc của mình. (4) Định hướng mạnh mẽ thúc đẩy thị trường hóa thể thao. (5) Hoàn thiện và kiện toàn các chế độ bảo hiểm xã hội cho vđv.

Tài liệu tham khảo

1.    Luật thể dục, thể thao năm 2006, Thư viện pháp luật.
2.    Nghị quyết số 05/2005/NQ của Chính phủ ngày 18/4/2005
3.    Thông tư liên tịch số 127/2008/TTLT/BCT-BVHTTDL ngày 24/12/2008 của liên Bộ Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch
4.    Nghị  quyết số  08-NQ/TW, ngày 01-12-2011 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020”.
5.    Nghị quyết 106/2015/NQ-HĐND chế độ đãi ngộ đối với vận động viên huấn luyện viên thể thao Đà Nẵng
6.    Quyết định 36/2009/QĐ-UBND chính sách ưu đãi vận động viên thể thao An Giang
7.    Luật sửa đổi bổ sung của một số điều luật bảo hiểm y tế Số:46/2014/QH13ngày 13 tháng 06 năm 2014

TS. Lưu Trọng Tuấn - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Các tin đã đưa: [Trở về]
        Bullet  NCS Vũ Mạnh Cường bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ
        Bullet  Trường ĐH Sư phạm TDTT TP.HCM trao bằng đại học khóa 9 và cao đẳng khóa 40
        Bullet  NCS Lê Anh Đức bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ
        Bullet  NCS Nguyễn Thị Thu Hiền bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ
        Bullet  NCS Trịnh Ngọc Trung bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ
        Bullet  Bộ TT&TT tới kiểm tra và làm việc tại Tổng cục TDTT
        Bullet  NCS Phạm Đức Viễn bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ cấp cơ sở
        Bullet  NCS Lê Thanh Hà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ cấp cơ sở
        Bullet  Trao quyết định bổ nhiệm chức danh Giáo sư cho ông Lâm Quang Thành
        Bullet  Ngành TDTT có thêm 1 Giáo sư và 19 Phó giáo sư
 

opera fix